Tổng quát chung về các nhà máy xử lý nước thải đang hoạt động

  • Cập nhật: Thứ ba, 11/10/2022 | 10:10:10 AM

QLMT - Đến tháng 6 năm 2015 nước ta có 778 đô thị với 31 triệu người [Bộ Xây dựng, 2015], hình thành nên một lượng nước thải đô thị ước tính khoảng 6,1 triệu m3/ngày. Thực tế bức xúc về môi trường đã đưa vấn đề thoát nước và xử lý nước thải (XLNT) lên một tầm mới.

Hàng loạt các dự án thoát nước, vệ sinh cho các đô thị bắt đầu được nghiên cứu triển khai, các hệ thống thu gom, chia tách nước thải, một số nhà máy XLNT đô thị đã được xây dựng.

Hầu hết các nhà máy XLNT tập trung của đô thị hiện nay có nguồn nước thải được thu gom từ hệ thống thoát nước chung (Hình 1). Chỉ có 3 nhà máy XLNT là nhà máy XLNT Buôn Ma Thuột , nhà máy XLNT Đà Lạt và nhà máy XLNT Thủ Dầu Một là có nguồn nước thải từ hệ thống thoát nước (HTTN) riêng.

Tổng quát chung về các nhà máy xử lý nước thải đang hoạt động - 1
Hình 1. Hệ thống cống chung với cống bao và giếng tách

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, trong thập niên vừa qua, đầu tư hàng năm vào lĩnh vực vệ sinh môi trường đô thị đạt con số 150 triệu Đô la Mỹ, chiếm , 45% GDP hàng năm. Theo Hội Cấp thoát nước Việt Nam, năm 2015, các số liệu thu thập được cho thấy, đến năm 2015, cả nước có 28 hệ thống thu gom và XLNT đô thị đã được xây dựng và đi vào hoạt động với công suất 670.000 m3/ngày.

Bảng 1. Công nghệ xử lý nước thải và bùn thải tại một số nhà máy XLNT đô thị hiện đang hoạt động




Ghi chú: WB- nguồn vốn Ngân hàng Thế giới; ADB – nguồn vốn ADB; JICA – Nguồn vốn Tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản; DANIDA – nguồn vốn tổ chức phátn triển quốc tế Đan Mạch; Kfw- Ngân hàng Tái thiết Đức; DN – nguồn vốn doanh nghiệp đầu tư hạ tầng đô thị.

Theo số liệu của đoàn công tác Ngân hàng Thế giới, năm 2013, trong số 15 nhà máy XLNT tập trung của đô thị được khảo sát thì chỉ có 2 nhà máy tiếp nhận nước thải từ HTTN riêng (nhà máy XLNT Đà Lạt và nhà máy XLNT Buôn Ma Thuột). Trong số 13 nhà máy tiếp nhận nước thải từ HTTN chung thì có 8 nhà máy có công nghệ XLNT bằng bùn hoạt tính (bùn hoạt tính truyền thống, bể phản ứng theo mẻ, mương oxy hóa, bùn hoạt tính theo nguyên tắc kị khí, thiếu khí và hiếu khí), chiếm 85% công suất lưu lượng thiết kế của toàn bộ các nhà máy.

Trong số các nhà máy XLNT nêu trên, nhà máy XLNT Sóc Trăng xây dựng bước 1 là các công trình xử lý bậc 1 gồm các công trình tiền xử lý như chắn rác, lắng cát và lắng sơ cấp, các công trình xử lý bùn: ổn định bùn và làm khô bùn bằng thiết bị cơ khí. Hiện nay nước ta có 28 nhà máy XLNT khác đang trong quá trình thiết kế hoặc đầu tư xây dựng với tổng công suất thiết kế khoảng 769.000 m3/ngày và công suất hoạt động chính thức là 558.630 m3/ngày. Như vậy tỉ lệ thu gom nước thải để xử lý mới chỉ đạt khoảng 12% lượng nước thải sinh hoạt ở các đô thị (tính theo công suất thiết kế) và khoảng 9,5 % (tính theo công suất vận hành thực tế).

Hội Cấp thoát nước Việt Nam năm 2015 đưa ra con số dự kiến đến năm 2020, trên cả nước sẽ tiếp tục có khoảng 60 nhà máy xử lý nước thải tập trung được đầu tư xây dựng hoặc đưa vào sử dụng với tổng công suất nước thải theo thiết kế là 1.435.000 m3/ngày, 4% người dân sử dụng nhà vệ sinh, trong đó % số hộ gia đình sử dụng bể tự hoại làm công trình xử lý tại chỗ, 60% hộ gia đình đấu nối xả nước thải vào hệ thống thoát nước công cộng.

Phân bố các nhà máy XLNT đô thị hiện nay và năm 2020 tại các vùng miền được thể hiện trên Hình 2.

Tổng quát chung về các nhà máy xử lý nước thải đang hoạt động - 2
Hình 2. Phân bố các nhà máy XLNT đô thị năm 2015 và năm 2020

Việc quan tâm đầu tư nhà máy XLNT cùng với mạng lưới thu gom nước thải tại các đô thị đã góp phần giảm ô nhiễm nguồn nước và ô nhiễm môi trường.

GS.TS Trần Đức Hạ



Tags nhà máy xử lý nước thải xử lý nước thải thoát nước

Các tin khác

Theo lộ trình thực hiện Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, từ năm 2024, Việt Nam sẽ bắt đầu lộ trình quản lý, loại trừ các chất HFC (môi chất lạnh có tiềm năng gây nóng lên toàn cầu cao), tiến tới giảm 80% lượng tiêu thụ từ năm 2045.

Tình hình thiếu nước và hạn hán kéo dài trên cả hai vùng Nam Trung Bộ và Tây Nguyên gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế và ảnh hưởng lớn đến sinh kế của người dân.

Trong giai đoạn 2016 - 2020, hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường được rà soát, sửa đổi và ban hành đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn.

Hơn 70% dân số Việt Nam có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi các thiên tai liên quan đến nước. Việt Nam là một trong các quốc gia hứng chịu thiên tai nhiều nhất trong khu vực Đông Á và Thái Bình Dương với xu hướng gia tăng luân phiên của lũ lụt và hạn hán.

Xem các tin đã đưa ngày:
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục
 
Thời sự